Cơ chế thanh lý: vùng đệm tài sản bảo đảm khi chịu áp lực
Tính tỷ lệ an toàn, theo dõi thanh lý một phần và kiểm tra liệu vùng đệm lý thuyết có chịu được chi phí thực thi hay không.

Khả năng thanh toán được giám sát bằng quy tắc
Hệ thống cho vay có tài sản bảo đảm cần cách ứng phó khi tài sản bảo đảm không còn đủ so với nợ. Tài liệu giáo dục của Aave mô tả hệ số sức khỏe dựa trên giá trị tài sản bảo đảm, ngưỡng thanh lý có trọng số và giá trị nợ. Các giao thức khác nhau về quy tắc chính xác và phiên bản triển khai, nên bài học này dùng tham số giả định rõ ràng thay vì khẳng định có một cơ chế phổ quát.
Hạn mức vay ban đầu và ngưỡng thanh lý không nhất thiết giống nhau. Một vị thế có thể không vay thêm được nhưng vẫn tránh được thanh lý ngay. Ngược lại, tỷ lệ sức khỏe chỉ vừa trên mức kích hoạt có thể để lại rất ít dư địa cho lãi tích lũy, biến động giá hoặc thay đổi tham số. Ngưỡng là ranh giới trong quy tắc, không phải mục tiêu vận hành được khuyến nghị.
Tính vùng đệm bằng đúng đơn vị
Với một tài sản bảo đảm, hệ số sức khỏe đơn giản bằng giá trị tài sản bảo đảm nhân ngưỡng thanh lý, chia cho giá trị nợ. Với tài sản bảo đảm $10,000, ngưỡng 75% và nợ $5,000, hệ số là 1.50. Nếu nợ và tham số giữ nguyên, giá trị tài sản bảo đảm $6,666.67 đưa hệ số về 1.00. Điều đó tương ứng mức giảm khoảng 33.33% so với giá trị ban đầu.
Các điều kiện đơn giản hóa rất quan trọng. Tiền lãi làm nợ tăng theo thời gian. Token vay có thể đổi giá. Cơ chế quản trị có thể thay đổi ngưỡng, và tài sản bảo đảm có thể được định giá theo một oracle cụ thể thay vì giá cuối trên màn hình. Vì vậy khoảng đệm giá tính được là kết quả kịch bản, không phải bảo đảm vị thế không bị thanh lý trước khi thị trường biến động đến mức đó.
Theo dõi tài sản và nợ qua quá trình thanh lý
Trong thanh lý một phần đơn giản, người tham gia bên ngoài trả một phần nợ và nhận tài sản bảo đảm kèm phần khuyến khích. Cả hai phía bảng cân đối của người vay thu nhỏ, nhưng vốn chủ sở hữu cũng phải trả phần khuyến khích. Phí gas, thanh khoản và rủi ro giá ảnh hưởng việc bên thanh lý thấy hành động có đáng làm hay không. Các cách triển khai giới hạn quy mô trả nợ hoặc thay đổi khuyến khích khác nhau, nên tài liệu hiện hành là thiết yếu đối với giao thức thực.
Giả sử tài sản bảo đảm là $6,400 và nợ là $5,000 với ngưỡng 75%. Hệ số sức khỏe là 0.96. Một bên thanh lý giả định trả $2,000 và nhận $2,100 tài sản bảo đảm, gồm khoản khuyến khích 5%. Tài sản bảo đảm còn lại là $4,300 và nợ là $3,000, tạo ra hệ số 1.075. Vốn chủ sở hữu giảm từ $1,400 xuống $1,300 do khoản khuyến khích $100, trước các tác động khác.
Kiểm tra sức chịu đựng của độ sâu thị trường và tắc nghẽn
Giá trị oracle không nhất thiết là tiền thực thu được khi bán tài sản bảo đảm. Nếu nhiều vị thế cùng thanh lý, các lệnh bán cạnh tranh có thể đẩy giá xuống. Tắc nghẽn có thể làm tăng chi phí giao dịch hoặc trì hoãn việc đưa giao dịch vào khối. Khoản khuyến khích lý thuyết có thể không còn đủ bù chi phí thực thi và bán tài sản bảo đảm thực tế.
Trong bảng kiểm tra sức chịu đựng, thay đổi đồng thời giá tài sản bảo đảm, giá khoản nợ, độ sâu thị trường khả dụng và chi phí giao dịch. Không giả định các điều kiện thuận lợi độc lập như cú sốc giá lớn nhưng thanh khoản không đổi. Cũng phân biệt tổn thất của người vay với nợ xấu của giao thức: người vay có thể mất tài sản bảo đảm trong khi hệ thống vẫn được bảo đảm đủ, còn thiếu hụt đủ nghiêm trọng có thể để lại nợ không thu hồi được sau khi tài sản bảo đảm đã cạn.
Theo dõi toàn bộ vòng đời vị thế
Tỷ lệ trên bảng điều khiển chỉ là một quan sát. Ghi tần suất cập nhật, oracle được dùng, có tính lãi không và tài sản nào dùng trả nợ được. Có tiền ở nơi khác không giống có đúng tài sản nợ trên đúng blockchain vào đúng thời điểm cần thiết.
Trong mô phỏng học tập, thử một điều chỉnh dự kiến bị thất bại hoặc chậm trễ. Điều gì xảy ra nếu giao dịch trả nợ bị hoàn tác, cầu nối tạm dừng hoặc mạng trở nên đắt đỏ? Bài tập làm rõ giả định vận hành mà không chỉ định mức đòn bẩy cụ thể. Phân tích hợp lý kết thúc bằng điều kiện khiến mô hình thất bại, không chỉ kịch bản thuận lợi nơi mọi thành phần hoạt động đúng lịch.
Với tài khoản nhiều tài sản bảo đảm, tính đóng góp có trọng số ngưỡng của từng tài sản trước khi cộng. Áp ngưỡng hào phóng nhất cho toàn bộ số dư có thể phóng đại sự bảo vệ. Danh mục có $5,000 tại ngưỡng 80% và $5,000 tại 60% đóng góp $7,000 tài sản bảo đảm điều chỉnh, không phải $8,000. Giá giảm tương quan sau đó có thể làm nhiều đóng góp giảm đồng thời, nên chỉ số lượng token bảo đảm không chứng minh đa dạng hóa.
Giá tài sản nợ cũng có thể làm mỏng vùng đệm
Trong mô hình đơn giản, hệ số sức khỏe bằng giá trị tài sản bảo đảm nhân ngưỡng thanh lý rồi chia nợ. Tài sản 10.000 đô la, ngưỡng 80% và nợ 6.000 cho khoảng 1,33. Nếu tài sản giảm 15% và tài sản nợ tăng giá 10% theo cùng đơn vị, kết quả là 8.500 × 0,80 ÷ 6.600, khoảng 1,03.
Vị thế gần ngưỡng hơn nhiều dù từng biến động riêng không quá lớn. Công thức này không đại diện mọi thị trường. Hệ thống thật có thể thêm ngưỡng, chế độ cách ly và giới hạn khác. Tạo kịch bản thay đổi độc lập cho tài sản và nợ; nợ tính bằng token không nhất thiết cố định bằng đô la.
Quyền thanh lý cần người có khả năng thực hiện
Vị thế đủ điều kiện thanh lý không đồng nghĩa tài sản sẽ được bán ngay ở giá cuối cùng. Người thực hiện cần vốn, giao dịch khả thi và động lực kinh tế. Khi nhiều vị thế chạm ngưỡng, phí mạng tăng và người mua giảm quy mô, giá trên màn hình không hứa có người mua toàn bộ khối lượng.
Vẽ tác động đến chủ vị thế, người thanh lý và thị trường nhận tài sản bảo đảm. Phân biệt tiền đã sẵn sàng để trả nợ với tiền ở nơi khác hoặc giao dịch còn chờ. Ghi tài sản thanh toán, nơi lưu và từng bước chuyển đến đúng chỗ. Thời gian thực hiện các bước phải được đánh giá cùng hệ số sức khỏe, không chỉ sau khi ngưỡng đã bị vượt.